Bắc Ninh: Chất lượng lượng quản trị địa phương - Những góc nhìn mới (Tiếp theo) – Bài 8: Chỉ số PCI Bắc Ninh 2016 – Dư địa cải cách

17/05/2017 08:33 Số lượt xem: 179

Sau 20 tái lập, Bắc Ninh đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội với nhiều dấu ấn nổi bật, cơ bản hoàn thành mục tiêu xây dựng tỉnh công nghiệp và đang bước vào chặng đường mới khó khăn hơn nhiều: Xây dựng Bắc Ninh cơ bản trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo hướng văn minh, hiện đại vào những năm 20 của thế kỷ 21, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, từng bước hiện thực hóa Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Đây là một giai đoạn cần có sự chuyển đổi về chất trong quản lý điều hành, nâng cao chất lượng quản trị, thích ứng với quá trình đô thị hóa và quy mô kinh tế gia tăng nhanh chóng, trong xu hướng đẩy mạnh cải cách thể chế và tái cơ cấu kinh tế trên phạm vi quốc gia gắn với phương châm xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, phục vụ, liêm chính và hành động.

Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế - xã hội xin giới thiệu một số nghiên cứu bước đầu về chủ đề này.

Bài 8: Chỉ số PCI Bắc Ninh 2016 – Dư địa cải cách

Theo kết quả Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã công bố, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2016, PCI tỉnh Bắc Ninh năm 2016 đã trở lại nhóm tỉnh xếp hạng Tốt, đạt 60,35 điểm (tăng 0,44 điểm), tuy nhiên thứ bậc trên toàn quốc của tỉnh Bắc Ninh giảm 4 bậc so với năm 2015 (xếp thứ 17) và xếp thứ 4 vùng đồng bằng Sông Hồng.

Bắc Ninh đứng thứ 7/63 tỉnh, thành phố hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Việt Nam trong tương lai (đứng đầu là TP.HCM, Đà Nẵng, Hà Nội), trong đó lý do doanh nghiệp chọn tỉnh Bắc Ninh để đầu tư kinh doanh vì đánh giá cơ sở hạ tầng tốt (41,8%) và Chất lượng điều hành tốt (26,9%).

  Nếu như năm 2015 tỉnh Bắc Ninh có 04/10 chỉ số thành phần tăng điểm thì năm 2016 có 08/10 chỉ số thành phần tăng điểm gồm:

- Gia nhập thị trường (+0,19): tăng 4 bậc từ thứ hạng 50 (năm 2015) lên thứ 46 (năm 2016)

- Tiếp cận đất đai (+0,19): tăng 16 bậc từ thứ hạng 36 (năm 2015) lên thứ 20 (năm 2016)

- Chi phí thời gian (+ 0,13): tăng 2 bậc từ thứ hạng 38 (năm 2015) lên thứ 36 (năm 2016)

- Chi phí không chính thức (+ 0,88): có mức cải thiện đáng kể khi tăng 18 bậc từ thứ hạng 58 (năm 2015) lên thứ 40 (năm 2016)

- Tính năng động (+0,25): tuy tăng điểm nhưng thứ hạng tụt 2 bậc từ thứ hạng 16 (năm 2015) xuống thứ 18 (năm 2016)

- Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp (+0,29): tăng 13 bậc từ thứ hạng 40 (năm 2015) lên thứ 27 (năm 2016)

- Đào tạo lao động (+0,35): tăng 2 bậc từ thứ hạng 8 (năm 2015) lên thứ 6 (năm 2016)

- Cạnh tranh bình đẳng (+1,27): tăng 18 bậc từ thứ hạng 61 (năm 2015) lên thứ 43 (năm 2016)

Tuy nhiên, ngay cả các Chỉ số tăng điểm này thì điểm số còn khiêm tốn và có nhiều cơ hội cũng như dư địa cải cách. Sau đây là một số Chỉ số thành phần có nhiều dư địa để tiếp tục thiện trong năm 2017.

1.Gia nhập thị trường (xếp thứ 46)

Tuy năm 2016 tăng điểm, tuy nhiên vẫn còn dư địa cải cách khi điểm số còn thấp hơn các tỉnh trong khu vực như: Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên; thậm chí thấp hơn tỉnh Lạng Sơn, Đắc Nông; đồng thời thứ hạng của Chỉ số này ở mức trung bình (46).

Biểu đồ 1. So sánh Chỉ số Gia nhập thị trường của tỉnh Bắc Ninh với tỉnh Trung vị (Hà Nội) và một số tỉnh đứng đầu trong vùng Đồng bằng sông Hồng, cả nước năm 2016

2.Tiếp cận đất đai ( xếp thứ 20)

Có nhiều tiến bộ so với năm 2015 khi chuyển từ xếp hạng từ thứ 36 tăng lên xếp thứ 20, thể hiện những nỗ lực của Sở Tài nguyên và Môi trường đã được ghi nhận, đây là thứ hạng cao nhất của Chỉ số Tiếp cận đất đai từ năm 2012 đến nay, đặc biệt càng có ý nghĩa khi xu hướng tiếp cận đất đai  gặp khó khăn hơn do quỹ đất bị thu hẹp và quy mô kinh tế tăng.

Biểu đồ 2. So sánh Chỉ số Tiếp cận đất đai của tỉnh Bắc Ninh với tỉnh Trung vị (Hà Nội) và một số tỉnh đứng đầu trong vùng Đồng bằng sông Hồng, cả nước năm 2016

3.Chi phí thời gian (xếp thứ 36)

Tuy có chút cải thiện, nhưng đây là Chỉ số có điểm số thấp so với các năm trước đây, hơn nữa trong xu hướng nhiều tỉnh có cải thiện nhiều về Chỉ số này, như một số tỉnh phía nam và Quảng Ninh với sự ra đời và hoạt động có hiệu quả của Trung tâm hành chính công.

Biểu đồ 3. So sánh Chỉ số Chi phí thời gian của tỉnh Bắc Ninh với tỉnh Trung vị (Vĩnh Long) và một số tỉnh đứng đầu trong vùng Đồng bằng sông Hồng, cả nước năm 2016

4.Chi phí không chính thức (xếp thứ 40)

Tuy có cải thiện so với năm 2015, nhưng Chỉ số Chi phí không chính thức xếp thứ 40 trong toàn quốc và nhìn chung có sự giảm điểm đáng kể so với năm 2011, 2012 và thấp hơn khá xa so với Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên.

Biểu đồ 4. So sánh Chỉ số Chi phí không chính thức của tỉnh Bắc Ninh với tỉnh Trung vị (Hà Nội) và một số tỉnh đứng đầu trong vùng Đồng bằng sông Hồng, cả nước năm 2016

5.Tính Năng động (xếp thứ 18)

Tuy có sự cải thiện so với năm 2015, nhưng thứ hạng lại tụt so với năm trước (giảm từ 16 xuống 18) do nhiều tỉnh có những nỗ lực cải thiện nhanh hơn thông qua các sáng kiến mới về cải cách. Nguyên nhân chính có từ nhiều năm qua chưa được khắc phục là: Doanh nghiệp đánh giá cao tính năng động và tiên phong của Lãnh đạo tỉnh nhưng cho rằng nhiều sáng kiến không được hiện tốt ở cấp Sở, ngành, cấp huyện.

Biểu đồ 5. So sánh Chỉ số Tính năng động của tỉnh Bắc Ninh với tỉnh Trung vị (Hà Nội) và một số tỉnh đứng đầu trong vùng Đồng bằng sông Hồng, cả nước năm 2016

6.Cạnh tranh bình đẳng (xếp thứ 43)

Có sự cải thiện đáng kể so với năm 2015 nhưng vẫn ở mức thấp trên phạm vi toàn quốc (xếp thứ 61 năm 2015 và xếp thứ 43 năm 2016), thấp hơn các tỉnh trong khu vực như: Quảng Ninh, Vĩnh Phúc,…

Biểu đồ 6. So sánh Chỉ số Cạnh tranh bình đẳng của tỉnh Bắc Ninh với tỉnh Trung vị (Hà Nội) và một số tỉnh đứng đầu trong vùng Đồng bằng sông Hồng, cả nước năm 2016

7. Hỗ trợ doanh nghiệp (xếp thứ 27)

Có sự cải thiện đáng kể, thứ hạng thay đổi từ 40 lên vị trí 27, tuy nhiên chưa tương xứng với nỗ lực phát triển dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Biểu đồ 7. So sánh Chỉ số Hỗ trợ doanh nghiệp của tỉnh Bắc Ninh với tỉnh Trung vị (Nam Định) và một số tỉnh đứng đầu trong vùng Đồng bằng sông Hồng, cả nước năm 2016

Như vậy, Chỉ số PCI tỉnh Bắc Ninh năm 2016 có sự tiến bộ nhưng trong bối cảnh các tỉnh có những sáng kiến và áp lực cải cách mạnh mẽ thì Bắc Ninh cần có những quyết tâm mới, trong đó tập trung vào thực hiện tốt những cam kết, thông điệp của Lãnh đạo tỉnh đã đề ra trên thực tế; thực thi những áp lực cải cách đủ mạnh, nhất là trong đánh giá cán bộ, phát huy tính năng động tiên phong, đề cao tinh thần trách nhiệm, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, tạo áp lực để thực hiện tốt quyết tâm cải cách của Lãnh đạo tỉnh.

Tỉnh Bắc Ninh cần coi trọng và quyết tâm mới trong quá trình cải thiện môi trường kinh doanh để thúc đẩy nâng cao chất lượng quản trị địa phương phù hợp với quy mô kinh tế tăng nhanh và quá trình đô thị hóa, xây dựng chính quyền đô thị hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

 

 (Còn nữa)

TS.Nguyễn Phương Bắc, Ths. Nguyễn Quốc Bình