Nâng cao năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

28/11/2023 09:00 Số lượt xem: 68

Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được thực hiện trong thời gian khá dài và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng. Để đạt được những thành tựu đó có sự đóng góp không nhỏ của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Đến nay, Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình thấp, phấn đấu đến năm 2025 vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước có thu nhập trung bình cao, năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Để đạt được mục tiêu đó, Đại hội Đảng lần thứ XIII xác định rõ nhiệm vụ “tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”.

Trong thời gian qua, năng lực khoa học công nghệ của đất nước từng bước được nâng cao. Tính đến nay, cả nước có khoảng 687 tổ chức nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ công lập và nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ khu vực tư nhân; 236 trường đại học; 3 khu công nghệ cao quốc gia; 13 khu công nghiệp ứng dụng công nghệ cao; 8 khu công nghệ thông tin tập trung; 17 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia; 2 trung tâm toán học quốc tế và vật lý; hơn 500 cơ quan thông tin khoa học công nghệ ở Trung ương và địa phương. Các lĩnh vực như công nghệ sinh học, hóa dầu, vật liệu xây dựng, năng lượng, tự động hóa, công nghệ nano, công nghệ y học được tăng cường về hạ tầng và có trình độ tiên tiến trong khu vực.

Vốn đầu tư toàn xã hội cho khoa học công nghệ có sự gia tăng, từ 29.777,6 tỷ đồng năm 2015 tăng lên 44.926,8 tỷ đồng năm 2019. 

Nguồn nhân lực khoa học công nghệ được cải thiện đáng kể về số lượng và trình độ. Đến năm 2019, cả nước có 185.436 người tham gia các hoạt động nghiên cứu và phát triển (tăng 7,4% so với năm 2017 và tăng 10,54% so với năm 2015). Tỷ lệ cán bộ nghiên cứu có trình độ tiến sĩ tăng nhanh, từ 10,97% (năm 2015) lên 15,04% (năm 2019). Tỷ lệ cán bộ nghiên cứu có trình độ thạc sĩ tăng từ 39,02% (năm 2015) lên 42,26% (năm 2019).

Cơ cấu cán bộ nghiên cứu theo trình độ


Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ

Nhờ có sự đầu tư đó, một số lĩnh vực khoa học tự nhiên Việt Nam đã đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế như toán học, vật lý, y học,… Việt Nam đã hợp tác với 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế về khoa học công nghệ; thị trường khoa học công nghệ từng bước phát triển mạnh mẽ với 15 sàn giao dịch và 50 vườn ươm công nghệ. Việt Nam đã dần trở thành đối tác hợp tác bình đẳng, cùng có lợi trong hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ.

Năng lực nội sinh về khoa học công nghệ được tăng cường đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cả nước khá cao và tương đối ổn định qua các giai đoạn. Quy mô của nền kinh tế tăng khá nhanh, từ 9,613 tỷ USD (năm 1991) lên 346,6 tỷ USD (năm 2020) qua đó, thứ hạng xếp hạng trong ASEAN cũng dược cải thiện lên thứ tư. Cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa: tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp giảm từ 24,53% (năm 2000) xuống còn 11,88% (năm 2022); công nghiệp - xây dựng tăng từ 36,73% lên 38,26%; dịch vụ tăng từ 38,74% lên 41,33%.

Tuy nhiên năng lực nội sinh khoa học công nghệ nước ta nhìn chung còn thấp: hạ tầng kỹ thuật cho phát triển khoa học công nghệ còn yếu kém và lạc hậu; còn thiếu đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ về số lượng và chất lượng. Việt Nam đang thiếu nhân lực khoa học công nghệ ở những lĩnh vực chủ chốt như công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ lõi; còn thiếu đội ngũ chuyên gia đầu ngành, tài năng, có khả năng lãnh đạo, định hướng nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ trong các lĩnh vực quan trọng. Đầu tư cho khoa học công nghệ còn hạn chế, đầu tư toàn xã hội cho khoa học công nghệ chỉ chiếm khoảng 0,53 % GDP, thấp hơn mức bình quân chung của thế giới là 0,7% GDP. Mặt khác, trình độ khoa học công nghệ quốc gia còn khoảng cách xa so với nhóm các quốc gia đứng đầu khu vực ASEAN.

Mặc dù đóng góp của khoa học công nghệ vào tăng trưởng kinh tế tăng lên, song vẫn thấp so với các nước phát triển và còn khoảng cách khá xa so với các nước châu Á trong cùng thời kỳ tăng trưởng nhanh. Khoa học công nghệ chưa thực sự trở thành nền tảng, động lực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chưa trở thành đòn bẩy nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác. Khoa học công nghệ chưa trở thành động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 

Có thể thấy, phát triển khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng quyết định thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động mạnh mẽ đến tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội, việc nâng cao năng lực nội sinh về khoa học công nghệ là điều kiện trọng yếu để thực hiện có hiệu quả quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đáp ứng xu hướng mới, Việt Nam cần đặt ra chính sách và tiếp thu ảnh hưởng lan tỏa của khu vực FDI và tận dụng cơ hội từ hội nhập để nâng cao năng lực công nghệ nội sinh của đất nước, gắn với quá trình đổi mới sáng tạo, tiếp cận khoa học công nghệ khu vực và thế giới.

Ths. Nguyễn Thị Thùy - Viện Nghiên cứu Phát triển KTXH tỉnh Bắc Ninh